thơ về nạn đói 1945
phần từ quảng trị trở về nam là bức phù điêu với phông nền là sóng nước xung quanh tượng trưng cho lũ lụt, vỡ đê, một bên là cảnh nhật ép dân nhổ lúa trồng đay, một bên là cảnh nhật trưng thu lương thực, cảnh người dân cầm bông lúa ăn rồi chết no. ở giữa tạc cảnh người chết đói, có thể là đứa bé đang day vú mẹ đã chết, cảnh xe kéo xác chết, cảnh …
- Bối cảnh xây dựng tình huống truyện: + Bối cảnh nạn đói khủng khiếp năm 1945 mà kết quả là hơn hai triệu người chết. + Cái chết hiện hình trong tác phẩm tạo nên một không khí ảm đạm, thê lương. Những người sống luôn bị cái chết đe dọa. - Trong bối cảnh ấy, Tràng, nhân vật chính của tác phẩm "nhặt" được vợ. Đó là một tình huống độc đáo
Nạn Đói Năm 1945 Ở Việt Nam Những tác phẩm văn học như truyện "Vợ nhặt" của Kim Lân, "Một bữa no" của Nam Cao hay "Chuyện cũ Hà Nội" của Tô Hoài, hoặc tác phẩm thơ như "Bếp lửa" của Bằng Việt, đều lồng vào trong đó câu chuyện về nạn đói cuối năm 1944 đầu xuân 1945, nạn đói khủng khiếp nhất trong lịch sử khi đã khiến hơn 2 triệu đồng bào thiệt mạng.
Cashberry Lừa Đảo. Những bài ca dao - tục ngữ về "Nạn đói năm Ất Dậu" Tàu cười, Tây khóc, Nhật lo Tàu cười, Tây khóc, Nhật lo, Việt Nam hết gạo chết co đầy đường Dị bản Tàu cười, Tây khóc, Nhật lo, Việt Nam độc lập chết co đầy đường Khách cười, Tây khóc, Nhật no Việt Nam độc lập nằm co chết đường Đất này đất tổ đất tiên Đất này đất tổ đất tiên Đất này chồng vợ bỏ tiền ra mua Bây giờ Nhật, Pháp kéo hùa Chiếm trồng đay lạc, ức chưa hỡi trời Chém cha lũ Nhật côn đồ Chém cha lũ Nhật côn đồ Bắt người cướp của tha hồ thẳng tay Dân ta trăm đắng ngàn cay Thức ăn chẳng có trồng đay cho người Giời làm chết đói tháng ba Giời làm chết đói tháng ba Người thì bán cửa bán nhà để ăn Người thì bán áo bán khăn Bán đi cho sạch, cốt ăn sống người Người thì bán mâm bán nồi Người thì bán cả đồ chơi trong nhà Người thì bán đất bán nhà Người thì bán cả mâm xà bát hương Người thì bán sập bán giường Có người bán chĩnh làm tương độ chầy Giời ơi đất hỡi có hay? Được mùa chớ phụ ngô khoai Được mùa chớ phụ ngô khoai Đến khi thất bát lấy ai bạn cùng Dị bản Được mùa chớ phụ môn khoai Đến năm Thân, Dậu lấy ai bạn cùng Nạn đói năm Ất Dậu Một nạn đói xảy ra tại miền Bắc trong khoảng từ tháng 10 năm 1944 Giáp Thân đến tháng 5 năm 1945 Ất Dậu làm khoảng từ đến hai triệu người dân chết đói. Nguyên nhân trực tiếp là những hậu quả của chiến tranh tại Đông Dương Các cường quốc liên quan như Pháp, Nhật Bản và cả Hoa Kỳ đã can thiệp vào Việt Nam và gây nhiều tai họa ảnh hưởng đến sinh hoạt kinh tế của người Việt. Những biến động quân sự và chính trị dồn dập xảy ra khiến miền Bắc vốn dĩ đã thiếu gạo nên càng bị đói. Ngoài ra còn có nguyên nhân tự nhiên lũ lụt, thiên tai, bệnh dịch tả.... Người chết vì đói năm Ất Dậu Chú khách Một cách gọi người Hoa sống ở Việt Nam. Từ này bắt nguồn từ chữ "khách trú," cũng gọi trại thành cắc chú. Đay Một loại cây thuộc họ bông gòn, chiều cao từ 2 - 5 m, vỏ cây dùng để làm sợi. Trong Chiến tranh Đông Dương, Pháp và Nhật đã bắt dân ta "nhổ lúa trồng đay" nhằm phục vụ chiến tranh sản xuất quân trang, quân phục, làm sản lượng lương thực bị giảm mạnh, góp phần gây nên nạn đói năm Ất Dậu ở miền Bắc. Cây đay Tháng ba và tháng bảy, tháng tám là hai thời kì giáp hạt trong năm. Mâm xà Loại mâm thờ chân cao, không có nắp. Bình hương Loại lọ bằng gỗ, sành hoặc sứ, thường có hoa văn, để cắm và thắp nhang trên bàn thờ hoặc những chỗ thờ cúng khác. Tùy theo hình dạng mà bình hương cũng gọi là bát hương hoặc nồi hương. Bát hương và cặp lọ trang trí Sập Loại giường không có chân riêng, nhưng các mặt chung quanh đều có diềm thường được chạm trổ. Sập thường được làm bằng gỗ quý, thời xưa chỉ nhà giàu mới có. Cái sập Chĩnh Đồ đựng bằng sành hoặc đất nung, miệng hơi thu lại, đáy thót, nhỏ hơn chum. Xem thêm Cái chum Độ chầy Lần hồi qua ngày. Như độ nhật. Khoai môn Tên một số giống khoai gặp nhiều ở nước ta, cho củ có nhiều tinh bột, ăn được. Có nhiều giống khoai môn như môn xanh, môn trắng, môn tím, môn tía, môn bạc hà, môn sáp, môn sen, môn thơm, môn trốn... mỗi loại có những công dụng khác nhau như nấu canh, nấu chè... Trước đây môn, sắn, khoai, ngô... thường được ăn độn với cơm để tiết kiệm gạo. Cây và củ khoai môn
Thơ Về Nạn Đói 1945 ❤️️ Bài Thơ Đói Của Bàng Bá Lân ✅ Tuyển Tập Những Bài Thơ Viết Về Nạn Đói Năm Ất Dậu 1945 Hay Nhất. Nội Dung Bài Thơ Đói Của Bàng Bá LânCác Bài Thơ Về Nạn Đói 1945 Bài thơ ĐóiTác giả Bàng Bá Lân Năm Ất Dậu, tháng ba, còn nhớ mãiGiống Lạc Hồng cực trải lắm đau thương!Những thây ma thất thểu đầy đường,Rồi ngã gục không đứng lên vì… đói!Đói từ Bắc Giang đói về Hà Nội,Đói ở Thái Bình đói tới Gia Lâm. Khắp đường xa những xác đói rên nằmTrong nắng lửa, trong bụi lầm co đống giẻ chỉ còn đôi hố mắtĐọng chút hồn sắp tắt của thây ma;Những cánh tay gầy quờ quạng khua khoaNhư muốn bắt những gì vô ảnh,Dưới mớ tóc rối bù và kết bánh,Một làn da đen xạm bọc xương nhe ra như những chiếc đầu lâu,Má hóp lại, răng hằn sâu gớm trẻ gái trai không còn phân biệt,Họ giống nhau như là những thây ma,Như những bộ xương còn dính chút daChưa chết đã bốc xa mùi tử khí!Mùi nhạt nhẽo nặng nề kỳ dị,Một mùi tanh lộn mửa thoảng mà kinh.Mùi tanh hôi ám ảnh mãi bên mìnhKhiến cả tháng ăn không còn ngon bữa!Những thây đó cứ xỉu dần tắt thở,Nằm cong queo mắt vẫn mở trừng con ngươi còn đọng lệ rưng rưng,Miệng méo xệch như khóc còn dang thây chết ba hôm còn nằm đó,Ruồi tám phương bâu lại khóc vo vo…Rồi ven đường đôi nhát cuốc hững hờĐắp điếm vội những nấm mồ nông dối! Đói từ Bắc Giang đói về Hà Nội,Đói ở Thái Bình đói tới Gia ven đường những nấm mộ âm thầmĐược đánh dấu bằng ruồi xanh cỏ nấm mộ quá nông trơ hài cốt,Mùi hôi tanh nồng nặc khắp không vài trận mưa, nước xối chan chan,Ôi, thịt rữa xương tàn phơi rải rác! Tại Hà Nội cũng như bao tỉnh khác,Những thây ma ngày lết đến càng đông;Đem ruồi theo cùng hơi hớm tanh nồng,Rồi ngã gục khắp đầu đường cuối sớm sớm cửa mỗi nhà hé ngỏ,Rụt rè xem có xác chết nào chăng!Từng chiếc xe bò bánh rít khô khanMỗi sáng dạo khắp nẻo đường nhặt chồng chất lù lù như đống rác,Đó đây thò khô đét một bàn chânHay cánh tay gầy khô đét teo rănGiơ chới với như níu làn không khí,Như cầu cứu, như vẫy người chú ý…Có hơi thở tàn thoi thóp chưa thôi,Có tiếng cụa mình, tiếng nấc… Những tròng ngươiNhìn đẫm lệ người chôn người chửa chết!Bốn ngoại ô mở ra từng dẫy huyệtĐược lắp đầy bằng xác chết… thường như mây bay rợp cả một miền…Chết! Chết! Chết! Hai triệu người đã chết! Họ là những người quê non nước Việt,Sống cần lao bên ruộng lúc đồng xanh rờn nhờ họ đổ mồ hôi,Nước Việt sống nhờ mồ hôi họ ấy, thuở Nhật, Tây cùng đô hộ,Chúng thi nhau cướp lúa của dân lúa rồi, hết sạch cả khoai ngô;Hết củ chuối, hết nhẵ khô cả sắn!Ngày giáp hạt không còn chi để nhấm,Đói cháy lòng, đành nhá cả mo cau;Nhá cả bèo và nuốt cả khô dầu!Đói! Đói! Đói! Người nhao lên vì đói! Đói từ Bắc Giang đói về Hà Nội,Đói ở Thái Bình đói tới Gia biệt quê hương, lê gót âm thầmTrên rải rác mọi nẻo đường đất gia đình dắt díu nhau lê bướcĐi lang thang mong sống tạm qua lúa lên hương, bông trĩu đầu tháng nữa sẽ hồi cư sẽ sống!Nhưng đau đớn hỡi ơi là ảo mộng!Họ ra đi hy vọng có ngày về!Nhưng chẳng bao giờ về nữa, hỡi người quê!Dần lả gục khắp đầu đường xó chợ! Cùng lúc ấy cũng trên đường rộn rã,Từng đoàn xe chuyên chở thóc vàng của dân đen, thóc của những ngườiĐang chết đói vì thực dân cướp chúng cướp phần vung xài huy hoắc,Phần chúng đem để mục nát trong kho!Ôi, đau thương, chưa từng thấy bao giờ…Trong lịch sử chưa bao giờ từng có!Hai triệu người, vì thực dân, lìa bỏNước thân yêu, oan uổng chết đau thương,Trong lúc đầy đồng bát ngát, ở quê hương,Lúa mơn mởn đang ra đòng trổ trái,Lúa trĩu hạt vàng tươi sai gấp bội,Ngạt ngào thơm báo hiệu ấm no người đi không về nữa, than ôi!Lúa chín gục, chẳng còn ai gặt hái!… Ta nhớ mãi cái thời kỳ đen tối!Quên làm sao tội lỗi kẻ xâm lăng!Quên làm sao mối thù hận khôn cùng!Quên sao được hai triệu người chết đói!Năm Ất Dậu tháng ba, còn nhớ mãi,Giống Lạc Hồng cực trải lắm đau thương!Những thây ma thất thểu đầy ngã gục không đứng lên vì… đói!Đói từ Bắc Giang đói về Hà Nội,Đói ở Thái Bình đói tới Gia Lâm!… Bên cạnh Thơ Về Nạn Đói 1945, Tặng Bạn ❤️️ Bài Thơ Về Đất Nước Việt Nam ❤️️Những Bài Ca Ngợi Tổ Quốc Hay Các Bài Thơ Về Nạn Đói 1945 Tuyển tập những bài thơ nói về nạn đói 1945 ý nghĩa nhất. Đa nhim, nhớ lại một tứ thơ mười lăm năm trước Tác giả Trần Xuân An Ngồi trước trang sách mởbóng điện tròn sáng soinghe trĩu đau vầng tránnghẹn đặc giọt mồ hôi giọt mồ hôi cúi mặt trồng đaybỏng kiếp tôi đòitrên đồng lúa ngậm đòngphải cắn răng nhổ bỏ! chữ học trò giấy vởbóng đèn chao nét ngờingước lên nhìn giọt lệtự thuở nào, sắp rơi giọt lệ rơi từ hốc mắt hờn căm ngút trờihai triệu rưởi người quắt queo chết đói! sổ tay thơ buốt nhóimáu ứa ra chảy ròngnhư mồ hôi nước mắtbóng điện rực rỡ hồng giọt máu hồng nhoà ngực lạnh mưa đôngvẫn nắm chặt tầm vông lao vào đồn giặc! đâu chỉ là nước mắtchuyện tình xưa, đa nhim!bóng điện treo từng giọtlương tâm không im lìm thắp màu nắng nghìn xưabao dung nhân hậu ấm buồng timđể Hi-rô-shi-ma, Na-ga-sa-kicũng đêm đêm rưng rưnggiọt nắng! Nghi thức nhặt cơm rơi của bà mẹ quêTác giả Trần Xuân An Quý hạt ngọc trời, thói quen từ béchao vào muỗng canh những hạt cơm rơiđưa lên miệng, kính cẩn lời niệm khẽchưa từng nhạt phai, dù tuổi tám mươi Ất Dậu, bốn lăm, niềm đau trận đóicha lén ăn, để chết lịm con thơquá tủi thẹn, đã tự mình treo cổ!suốt đời bà, chưa khuây quên bao giờ chuyện quê buồn, tôi nghe từ tuổi nhỏngười thành ma đói, ngập chợ đầy đườngmột cơ khổ giữa trùng trùng cơ khổnăm năm giặc Nhật, mấy triệu đau thương trở mặt Đông Du, mị lừa Đại Áxót đau, biết trước, còn bịp ai đây!nay tóc bà vẫn trắng mây nhân hậulỡ cơm rơi, nhặt lại, dẫu đủ đầy nỗi mất nước khắc sâu vào số phậntiếc ngọc trời thành nghi thức nguyện cầuHiro, Naga cũng hằng tưởng niệmvới tiếng bẻ gươm? vỗ cánh bồ câu. Giời làm chết đói tháng baTác giả chưa rõ Giời làm chết đói tháng baNgười thì bán cửa bán nhà để ănNgười thì bán áo bán khănBán đi cho sạch, cốt ăn sống ngườiNgười thì bán mâm bán nồiNgười thì bán cả đồ chơi trong nhàNgười thì bán đất bán nhàNgười thì bán cả mâm xà bát hươngNgười thì bán sập bán giườngCó người bán chĩnh làm tương độ chầyGiời ơi đất hỡi có hay? Đói! Đói!Tác giả Tố Hữu Lúa mùa mất sạch mọi nơiGiặc còn vơ vét hết nồi đến thăng!Đói xo khắp xóm khắp làngRau dưa chết giá, ngô lang xạc xờBuồn trông đồng trắng bãi khôLúa chiêm thôi hết ước mơ đầy nồi!Một quan gạo sáu lon thôiKhông tiền mua cám mà nuôi mẹ giàCháu thơ đói lả ôm bàCon đeo chân bố khóc la đêm ngày! Bà con ơi, tính sao đây?Bã nâu thính trấu nhét đầy bụng sao?Ăn xin, xin chẳng có nàoNằm lăn mà khóc, mà gào ai thương?Há đành chết lặng trên giườngHá đành gục xuống bên đường chết queo?Dậy đi, hỡi bạn đói nghèoTay cầm thúng mủng, lưng đèo cháu conSợ chi doạ nạt roi đònRủ nhau ta tới công môn ta đòiPhát cho ta gạo ngô khoaiCứu dân đi hỡi các ngài mặt mo!Lúa ta chất ứ đầy khoDành cho ai hưởng, chẳng cho ta dùng?Phát ngay cho kẻ bần cùngMẹ cha, con cháu, vợ chồng ta ăn!Bà con ơi, chớ tần ngầnCứu đời ta sống, phải cần tay ta!Tiến lên hăng nữa, đừng thaCầm dao, cầm súng xông ra phen nầy!Đánh cho giặc Nhật tan thâyVằm cho nát mặt cả bầy Việt gianDiệt trừ phát-xít dã manViệt Nam độc lập hoàn toàn tự doĐời dân ta mới ấm no! Chia Sẽ ❤️️ Thơ Về Quê Hương Đất Nước Hay ❤️️65+ Bài Thơ Về Tổ Quốc
Nạn đói ở Thái Bình Bóp cổ, moi thức ăn từ miệng người khác Chúng ta có thể tự hào bởi những trang sử hào hùng và kiêu hãnh, nhưng chúng ta cũng không thể quên những đau thương, mất mát của dân tộc mình. Kỳ 1 Những câu chuyện bi thươngTrong Viện Sử học Việt Nam có lưu bức thư của một tác giả nước ngoài là Vespy viết tháng 4/1945 tả về thảm cảnh nạn đói 1945 “Họ đi thành rặng dài bất tuyệt, người nào người ấy rúm người dưới sự nghèo khổ, toàn thân lõa lồ, gầy guộc giơ xương, ngay cả những thiếu nữ đến tuổi dậy thì đáng lẽ hết sức e thẹn cũng thế. Thỉnh thoảng họ dừng lại vuốt mắt cho một người đã ngã và không bao giờ dậy được nữa, hay để lột một miếng giẻ rách không biết gọi là gì cho đúng để che thân người đó. Nhìn những hình người xấu hơn con vật xấu nhất, nhìn thấy những xác chết nằm co quắp cạnh đường chỉ có vài nhành rơm vừa làm quần áo vừa làm vải liệm, người ta thật lấy làm xấu hổ cho cái kiếp con người”. Theo thống kê của Viện Sử học, số người chết trong nạn đói Ất Dậu lên tới 2 triệu người. Nạn đói xảy ra trên diện rộng, từ Quảng Trị trở ra Bắc Kỳ. Mở lại những trang hồ sơ về sự kiện bi thảm ấy, cũng không còn nhiều câu chuyện cụ thể được ghi chép lại. Nạn đói năm Ất Dậu – 1945. Ảnh Võ An Ninh Nạn đói xảy ra trên địa phận tỉnh Thái Bình là khủng khiếp nhất. Cảnh chết đói diễn ra khắp nơi trong tỉnh, nhất là các huyện phía nam. Hàng ngày, từng đoàn người đói rét dắt díu nhau đi lang thang ăn xin rồi chết ở đầu đường xó chợ. Nhiều gia đình chết không còn một ai. Nhiều làng chết đói từ 50 đến 80% dân số. Chỉ trong vòng 5 tháng, số người chết đói trong toàn tỉnh lên đến 28 vạn người, chiếm khoảng 1/4 dân số toàn tỉnh. Chúng ta có thể tự hào bởi những trang sử hào hùng và kiêu hãnh, nhưng chúng ta cũng không thể quên đi những đau thương, mất mát của dân tộc mình. Hiện tại, cũng không mấy người còn hình dung ra những thảm cảnh kinh hoàng 70 năm trước. Mùa thu năm 2014, tôi lên đường tìm lại những dấu tích cũ, những nhân chứng sống của nỗi đau lịch sử đó. Thái Bình giờ thay da đổi thịt, làng quê khang trang như phố thị, người xe nườm nượp, đầy tiếng trẻ nô cười. Có ai ngờ rằng, nơi đây từng là địa ngục trần gian. Khi tôi đặt vấn đề tìm hiểu về những số liệu của thời kỳ đau thương ấy, nhà sử học Đặng Đình Hùng, một nhà nghiên cứu lịch sử tỉnh Thái Bình cho biết, mặc dù sinh sau nạn đói gần 10 năm, nhưng ông vẫn được nghe, được kể rất nhiều về nạn đói. Những câu chuyện, những con số của nỗi đau năm 1945 vẫn luôn ám ảnh ông. Khi vụ mùa gần như mất trắng, cộng thêm thiên tai, vỡ đê, dân Thái Bình rơi vào nạn đói kéo dài từ tháng 8 năm Giáp Thân 1944 sang đến những tháng đầu năm Ất Dậu 1945. Trong khi đáng lẽ phải cứu đói khẩn cấp thì chính quyền phát xít Nhật lại thực hiện chính sách thu mua thóc tạ thời chiến. Họ tỏa về các làng xã thu vét thóc gạo. Vào cuối 1944, khi chiến tranh thế giới thứ 2 đi vào giai đoạn quyết liệt, Nhật – Pháp chuẩn bị chiến tranh, bọn đế quốc càng ráo riết tích trữ các mặt hàng chiến lược, đặc biệt là lương thực thực phẩm. Đến đầu năm 1945, nạn đói bùng nổ khi dân chúng không còn bất cứ cái gì để ăn, thóc gạo cũng hết, ăn sạch cả củ sắn, củ mài, nhặt cỏ rau má ăn, củ chuối cũng đào hết. Những bức ảnh ghi lại thời kỳ đau thương trong lịch sử dân tộc Ảnh Võ An Ninh Thời kỳ đó, không ai còn nghĩ đến ai cả, họ hàng, bố con, anh em bỏ nhau hết, con đến nhà bố thì bố đóng cửa không cho vào, bố đến nhà con thì con không nhận, vì quá đói, sợ đến lại không còn cái gì để ăn. Người ta bắt đầu đổ ra ngoài, tìm mọi cách để giành giật lấy mọi thứ có thể cho vào mồm. Có lẽ không lời nào có thể tả hết được thảm cảnh đó. Lúc cao điểm, ở các con đường, người chết lẫn người sống nằm la liệt, hoặc không thì bò lê bò lết, đói quá không ai còn sức đứng dậy nổi. Rất nhiều trẻ con nằm chết, bởi bố mẹ sinh ra không nuôi nổi đành bế ra đường bỏ. Một cụ già ở xã Tây Lương Tiền Hải, Thái Bình kể rằng, ông nhớ mãi hình ảnh 2 mẹ con nằm ngay bên vệ đường trong lần ông đi mua rượu cho địa chủ, mẹ chết trước, con ánh mắt đờ đẫn cứ nằm trên bụng mẹ bú vào cặp vú, là mẩu da nhỏ dính trên bộ ngực toàn xương xẩu. Cây số 3 trên đường từ Thái Bình đi Hà Nội, nay là một khu vực sầm uất, hàng quán san sát, chỉ có một cột mốc cũ kỹ bên vệ đường. Thời nạn đói xảy ra, ở đó đã từng có hàng vạn người đói rách quằn quại tụ tập ở đây với hy vọng có thể tìm được một con đường sống. Cây số 3 trong nạn đói Ất Dậu 1945 Ảnh Võ An Ninh Câu chuyện được nhà sử học Đặng Đình Hùng ghi chép Có người đàn ông đi làm thuê, bốc vác, ông có mang theo mấy củ khoai cùng với nắm cơm. Gọi là cơm nhưng thực ra là cám trộn với một ít gạo, một ít rau, trấu… làm lương thực ăn dọc đường. Lúc về qua địa phận đó, xung quanh là những con người nằm im bất động, sống hay chết cũng không biết. Mệt quá nên ông đành ngồi lại nghỉ ngơi, vừa mới móc tý lương thực ít ỏi ra thì bất thần những thây ma ngóc đầu dậy, rồi xúm vào vồ lấy nắm cơm. Có một người giật được, cho ngay vào mồm, nhưng chưa kịp nuốt thì đã bị những kẻ khác dùng tay bóp nghẹt cổ họng, thè cả lưỡi và rơi miếng cơm ra. Cả nhóm lại nhảy vào xâu xé cái miếng cơm ít ỏi đó… Nhà sử học Đặng Đình Hùng bên cột mốc số 3 hiện tại, nay là một khu vực sầm uất Bảo tàng tỉnh Thái Bình trông thật khang trang, bề thế. Cạnh đó là những công trình, nhà cửa san sát, những dấu tích cũ cũng đã biến mất. Nhưng cách đây gần 70 năm, ngay cạnh đó là trại tế bần do những thân hào, nghĩa sỹ yêu nước đứng ra thành lập. Họ vận động những nhà giàu có trong vùng quyên góp để cứu đói. Nơi đây, các nghĩa sĩ đã nấu cháo phát chẩn. Dù lượng cháo quá ít ỏi nhưng đó là niềm hy vọng sống nhỏ nhoi của hàng vạn con người đang lay lắt từng ngày. Địa danh từng là trại tế bần Mỗi người được một bát nhỏ, toàn nước cháo loãng, có tý gọi là chất gạo. Nhưng ai nhận được cháo phát chẩn mà ăn ngay tại chỗ thì còn được vào người, được an toàn, chứ chỉ cần bê tô cháo quay ra ngoài, ra khỏi hàng là y như rằng bị cướp. Thậm chí, lúc giằng co bát cháo rơi xuống, có người ngay tức khắc nằm ra để hứng, không hứng được, họ cào cả lớp đất vừa ngấm tý nước gạo cho ngay vào mồm. Có người rách lưỡi, rách họng vì nuốt vội cả mảnh bát vỡ. Vể sau, người ta gọi đùa trại tế bần đó là Nhà máy cháo, ký ức về một thời đau thương của dân tộc.
thơ về nạn đói 1945